GÓC NHÌN THỰC TẾ VỀ ÁP DỤNG CISG TẠI VIỆT NAM TRONG 4 NĂM QUA – SỰ NGẠI THAY ĐỔI HAY GÁNH NẶNG “NHỚ NHÀ”?

Nguyễn Trung Nam (Tony) – Luật sư sáng lập EPLegal

(PHẦN 1: Hành trình Việt Nam gia nhập CISG)

Lịch sử ra đời và thành công của CISG

Công ước của Liên Hiệp Quốc về Hợp đồng Mua bán Hàng hóa Quốc tế (“CISG“) được thông qua năm 1980. Kể từ đó, CISG đã đóng góp rất nhiều vào sự chắc chắn và sự hiệu quả về chi phí trong thương mại.[1] Cùng với Công ước New York 1958, CISG được nhiều người xem là một trong những công ước thành công nhất của UNCITRAL.

CISG được soạn thảo bởi một nhóm làm việc gồm các luật sư từ các khu vực khác nhau trên thế giới dưới sự bảotrợ của Ủy ban Thương mại Quốc tế Liên Hợp Quốc (“UNCITRAL“). Cho đến ngày 01/11/2020, 96 nước và vùng lãnh thổ đã thông qua CISG.[2] Kim ngạch xuất nhập khẩu giữa các quốc gia này chiếm tới 3/4 tổng kim ngạch thương mại của toàn thế giới, chứng tỏ tính phổ cập tầm ảnh hưởng mạnh mẽ của công ước đối với thương mạihàng hóa quốc tế.

Sự thành công của CISG có thể được giải thích bởi các yếu tố sau:

Thứ nhất, CISG là kết quả từ nỗ lực đàm phán qua hàng thập kỷ của các đại diện từ các quốc gia khác nhau. Kết quả của quá trình này là một công ước hiện đại phù hợp với các hệ thống pháp lý khác nhau trên thế giới và có khả năng cân bằng lợi ích giữa người bán và người mua.

Thứ hai, công ước áp dụng cho các hợp đồng thương mại giữa người mua và người bán có địa điểm kinh doanh tại các quốc gia thành viên của CISG hoặc khi các quy tắc của luật pháp quốc tế tư nhân coi luật của một nước ký kết là luật có thể áp dụng. Mặc dù có phạm vi bao phủ rộng như vậy, công ước rất linh hoạt và cũng tôn trọng quyền tự do hợp đồng bằng cách cho phép các bên của hợp đồng loại trừ, thay đổi hoặc thay thế một hoặc gần như tất cả các điều khoản của CISG.[3]

Thứ ba, ngôn ngữ của CISG rất thực dụng và dễ dàng để bất kỳ ai cũng có thể đọc, hiểu và áp dụng.

Thứ tư, CISG đã được nhiều nước tham khảo để phát triển luật pháp nội địa. Trên thực tế, sự hiện diện của CISG có thể được nhận thấy trong luật thương mại của Pháp, Đức,[4] Thụy Sĩ, Trung Quốc[5] và Việt Nam.[6]

Cuối cùng, các doanh nghiệp vừa và nhỏ thường ít được tiếp cận với dịch vụ pháp lý khi đàm phán hợp đồng. Do đó, họ thường là bên yếu thế hơn khi thực hiện công việc này và phải đối mặt với rủi ro cao hơn khi ký kết hợp đồng. Các doanh nghiệp như vậy sẽ hưởng lợi từ CISG với các điều khoản công bằng cho người mua và được ap dụng một cách mặc định cho hợp đồng mua bán của họ.

Hành trình gia nhập CISG của Việt Nam

Việt Nam bắt đầu nghiên cứu về CISG vào những năm 80. Tuy nhiên, chỉ tới năm 2010, những lợi ích và nhược điểm của việc tham gia CISG mới được nghiên cứu và xem xét một cách khoa học bởi một nhóm các chuyên gia về CISG. Các chuyên gia đã được tập hợp để tiến hành một nghiên cứu sâu rộng về CISG theo đề xuất của Hội đồng Tư vấn Chính sách Thương mại Quốc tế (“INTAC“) trực thuộc Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (“VCCI“). Nghiên cứu này tập trung vào việc phân tích lý do mà các quốc gia khác tham gia hoặc từ chối tham gia CISG, so sánh CISG và luật pháp Việt Nam có hiệu lực vào thời điểm đó, phân tích lợi ích mà CISG đem lại cho các doanh nghiệp Việt Nam, thu thập ý kiến của các học giả, doanh nhân và người hành nghề luật, đánh giá nguy cơ tiềm ẩn của việc phê chuẩn CISG, thủ tục để Việt Nam gia nhập CISG và cách áp dụng CISG một cách hiệu quả.

Vào tháng 4 năm 2011, một nhóm các nhà nghiên cứu từ Trung tâm Nghiên cứu Luật Thương mại Quốc tế của Đại học Ngoại thương đã bắt đầu một nghiên cứu về CISG để phân tích hành vi của các doanh nghiệp Việt Nam trong việc ký kết hợp đồng mua bán hàng hóa. Mục tiêu là để đo lường rủi ro mà một doanh nghiệp có thể gặp phải khi Việt Nam không phải là quốc gia ký kết CISC và so sánh rủi ro đó với tình huống tương tự khi Việt Nam là nước thành viên. Nghiên cứu có hai phần: 1) So sánh toàn diện và chi tiết giữa CISG và Luật Việt Nam; và 2) Một cuộc khảo sát định lượng được thực hiện trên 75 doanh nghiệp xuất nhập khẩu về thực tiễn hợp đồng, kiến ​​thức và quan điểm của họ về CISG, và 150 hợp đồng mua bán quốc tế được thu thập từ các doanh nghiệp xuất nhập khẩu khác nhau tại Việt Nam.[7]

Ngày 14/01/2013, trên cơ sở đề xuất của các doanh nghiệp Việt Nam và Bộ Công Thương,Thủ tướng Chính phủ đã có công văn chấp thuận “về nguyên tắc” việc Việt Nam gia nhập CISG. Bộ Công Thương được giao nhiệm vụ thực hiện các thủ tục cần thiết của việc gia nhập CISG. Năm 2013, Bộ Công Thương đã triển khai nghiên cứu riêng về lợi ích tiềm năng và những xung đột pháp lý tiềm ẩn và rủi ro của CISG. Trong nghiên cứu, Bộ đã thu thập ý kiến và của các doanh nghiệp và học giả để đánh giá kiến thức của doanh nghiệp về CISG, luật điều chỉnh hợp đồng của họ (hoặc luật điều chỉnh ưu tiên của họ), và liệu các doanh nghiệp và học giả có tin rằng Việt Nam nên tham gia CISG hay không.

Ngày 18/12/2015, Chủ tịch nước Việt Nam chính thức ký phê duyệt gia nhập CISG. Theo đó, Việt Nam trở thành nước thành viên thứ 84 của công ước này.

Ngày 01/01/2017, CISG bắt đầu có hiệu lực tại Việt Nam.

Một số quan ngại đối với Việt Nam khi gia nhập CISG

Theo khảo sát của Bộ Công Thương năm 2013, 35% người được phỏng vấn (làm việc trong lĩnh vực xuất nhập khẩu) thừa nhận rằng họ không hiểu hoặc không có kiến thức về CISG, 40% cho rằng họ sẽ có thể áp dụng CISG nếu được yêu cầu và chỉ 25% tuyên bố hiểu đầy đủ về công ước.[8] Thống kê này có nghĩa là các doanh nghiệp có chuyên môn hạn chế về CISG, theo đó họ sẽ ngần ngại tránh áp dụng CISG và ưu tiên luật pháp Việt Nam trong chừng mực có thể.

Mối quan ngại khác là việc các nguyên tắc của CISG vẫn còn khá mới đối với hệ thống pháp luật Việt Nam. Giáo dục pháp luật ở Việt Nam cũng không cung cấp một chương trình hoặc môn học toàn diện về CISG và chỉ có một số lượng ít các nghiên cứu pháp lý về áp dụng CISG tại Việt Nam.

Ngoài ra, những ý kiến phê bình về CISG có thể được tóm tắt như sau:

  • CISG không thể đứng độc lập như một nguồn pháp luật hợp đồng.
  • Các định nghĩa “mua bán”, “hàng hóa”, “địa điểm kinh doanh” trong CISG có thể phức tạp khiến việc áp dụng công ước trở nên khó khăn.
  • CISG không điều chỉnh các vấn đề như năng lực giao kết hợp đồng, người đại diện theo pháp luật, phạt vi phạm hợp đồng, chuyển giao quyền và nghĩa vụ, giao dịch đảm bảo, thời hiệu,..
  • Các nguyên tắc, nguồn luật được sử dụng để giải thích CISG không có giá trị rõ ràng, khiến việc áp dụngCISG không nhất quán.
  • Các quốc gia thành viên CISG đã có khá nhiều bảo lưu để không áp dụng một số điều khoản nhất định của CISG. Do đó, các bên của hợp đồng phải thực hiện thêm một bước để kiểm tra xem có những bảo lưu nào có thể ảnh hưởng đến hợp đồng. Ví dụ, Việt Nam bảo lưu rằng hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế chỉ có hiệu lực khi lậpbằng văn bản, trái với Điều 11 của CISG.

Phần 2 của Góc nhìn thực tế về áp dụng CISG tại Việt Nam trong 4 năm qua sẽ được đăng tải vào ngày 07/06/2021


[1] uncitral.un.org/en/texts/salegoods/conventions/sale_of_goods/cisg
[2] uncitral.un.org/en/texts/salegoods/conventions/sale_of_goods/cisg/status
[3] Điều 6 CISG
[4] Franco Ferarri (ed), The CISG and its Impact on National Legal Systems (Sellier. European Law Publishers GmbH, Munich 2008) 144.
[5] Fan YANG, ‘The Application of the CISG in the Current PRC Law and CIETAC Arbitration Practice’ (PACE, December 2006)
[6] The Vietnam Civi Code 2005 and Civil Code 2015 contains regulations that are similar to CISG’s provisions.
[7] Nguyen Minh Hang, Nguyen Trung Nam, ‘Why should Vietnam Accede to the CISG – A Comparative and Quantitative Study on the Costs and Benefits of Vietnam for joining the CISG’ in The Annual MAA Peter Schlechtriem CISG Conference 2014: Boundaries and Intersections (2014).
[8] Nguyen Minh Hang, Nguyen Trung Nam, ‘Why should Vietnam Accede to the CISG – A Comparative and Quantitative Study on the Costs and Benefits of Vietnam for joining the CISG’ in The Annual MAA Peter Schlechtriem CISG Conference 2014: Boundaries and Intersections (2014).

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai.