GÓC NHÌN THỰC TẾ VỀ ÁP DỤNG CISG TẠI VIỆT NAM TRONG 4 NĂM QUA – SỰ NGẠI THAY ĐỔI HAY GÁNH NẶNG “NHỚ NHÀ”?

Nguyễn Trung Nam (Tony) – Luật sư sáng lập EPLegal

(Phần 2: Kết quả áp dụng CISG tại Việt Nam trong 4 năm qua) 

Bài viết này tập trung vào vấn đề áp dụng CISG tại Việt Nam, cụ thể là Điều 1, Điều 6, Điều 7 và Điều 8 của công ước. Các vấn đề không được quy định bởi CISG, hoặc chỉ được đề cập nhưng chưa được giải quyết cũng sẽ được làm rõ. 

Áp dụng CISG đúng cách 

Ngoại trừ một số khúc mắc liên quan đến khai niệm “địa điểm kinh doanh”, Điều 1.1(a) về cơ bản không gây tranh cãi. Tuy nhiên, Điều 1.1(b) lại là một chủ để được các chuyên gia trên toàn thế giới thảo luận. Ví dụ, hợp đồng quy định rằng luật áp dụng là luật của một quốc gia thành viên CISG và quốc gia đó không dựa vào Điều 95 để loại bỏ Điều 1.1(b). Trong trường hợp này, câu hỏi đặt ra là liệu luật của nước thành viên đó hay CISG sẽ được áp dụng. 

Trước đây, có nhiều ý kiến cho rằng lựa chọn luật quốc gia làm luật áp dụng đồng nghĩa với việc loại trừ CISG.[1] Quan điểm này gặp phải nhiều chỉ trích và đã không còn đúng. Ngược lại, phần lớn những án lệ của các nước thành viên CISG như Pháp, Mỹ, Trung Quốc đều đồng tình với cách áp dụng là nếu các bên trong hợp đồng muốn loại trừ CISG, các bên phải thể hiện điều đó ra một cách rõ ràng. Nếu các bên không quy định rõ về loại trừ CISG, việc thỏa thuận áp dụng pháp luật một nước thành viên đồng nghĩa với việc CISG sẽ là luật được áp dụng. Đây cũng đồng thời là quan điểm chính thống của UNCITRAL.[2] Theo ý kiến của Hội đồng cố vấn CISG, ngay cả khi một hoặc các bên tham gia tranh chấp không căn cứ trên CISG mà áp dụng các quy định luật quốc gia để nộp khiếu kiện, cơ quan giải quyết tranh chấp cũng không thể từ riêng lý do đó để suy ra các bên ngầm định loại trừ CISG.[3] 

Đối với Điều 7.1 of CISG, khi cơ quan xét xử áp dụng và giải thích CISG, họ cần xem xét đến tính chất quốc tế của nó cũng như sự cần thiết phải thúc đẩy việc áp dụng CISG một cách thống nhất và bảo đảm nguyên tắc thiện chí trong thương mại quốc tế. Trong quãng thời gian dài và cho đến tận bây giờ, nguyên tắc thiện chí vẫn là một khái niệm gây tranh cãi. Các chuyên gia và học giả thuộc khối Thông luật luôn phản đối việc sử dụng nguyên tắc thiện chí trong luật pháp nội địa của các nước theo truyền thống dân luật. họ cho rằng giới hạn về yêu cầu thiện chí trong Điều 7.1 CISG chỉ đơn giản là một trạng thái tinh thần trong khi diễn giải, giải thích CISG.[4] Tuy nhiên, không nên đồng ý theo cách hiểu này của các nước trong khối Thông luật. Trong mọi trường hợp, nguyên tắc thiện chí phải được hiểu theo nghĩa quốc tế, chứ không được áp đặt bất kỳ cách hiểu của quốc gia nào.[5]

Tiếp theo là nguyên tắc lấp chỗ trống theo Điều 7.2 của CISG. Điều 7.2 tạo ra cơ chế 2 tầng để giải quyết những vấn đề mà CISG không đề cập, hoặc có đề cập nhưng không xử lý. 

Ở tầng 1, các nguyên tắc chung làm nền tảng của Công ước được sử dụng để giải quyết các vấn đề pháp lý đang có lỗ hổng. Các nguyên tắc đó bao gồm: 

– Nguyên tắc tự do thỏa thuận (Quy định tại Điều 6 CISG) 

– Nguyên tắc thiện chí trong giải thích Công ước (Điều 7.1 CISG) 

– Nguyên tắc về nơi thanh toán tiền, là địa điểm kinh doanh của bên bán (Điều 57 CISG) 

– Nguyên tắc về ganh nặng chứng minh thuộc về bên yêu cầu được hưởng lợi từ một điều khoản của CISG, hoặc mong muốn được miễn trừ một trách nhiệm nào đó. 

– Nguyên tắc bồi thường toan bộ khi có vi phạm. 

– Nguyên tắc không xem trọng hình thức (Điều 11 CISG) 

– Nguyên tắc về trao đổi thông tin liên lạc (Điều 27 CISG) 

– Nguyên tắc hạn chế tổn thất (Điều 77 CISG) 

– Nguyên tắc áp dụng thói quen thương mại giữa các bên (Điều 9.2 CISG) 

– Nguyên tắc quyền tạm hoãn thực hiện nghĩa vụ thanh toán của bên mua khi bên bán vi phạm nghĩa vụ. 

– Quyền tính lãi chậm trả (Điều 78 CISG) 

– Nguyên tắc thiên vị hợp đồng “Favor contractus” thể hiện qua Điều 19.2, 25, 26, 34, 48, 49, 51.1 và Điều 64 CISG 

– Nguyên tắc tin cậy “Reliance” trong Điều 8 CISG. Theo nguyên tắc này một bên sẽ bị ràng buộc trách nhiệm nếu các tuyên bố và hành vi của nó thể hiện ý định chịu sự ràng buộc đó. 

– Nguyên tắc tiên lượng được một cách hợp lý (Điều 74 và Điều 79 CISG). 

Tại tầng 2, pháp luật áp dụng sẽ là luật pháp của một quốc gia. Một trong những vấn đề được đặt ra tại đây là làm sao để phân biệt giữa việc áp dụng các nguyên tắc chung nói trên, với việc áp dụng luật quốc gia. In fact, there are two common gaps of CISG. Thực tiễn xét xử thường chia các lỗ hổng của CISG ra làm hai loại: loại thứ nhất là lỗ hổng bên ngoài (external gap) nói về các vấn đề mà CISG có ghi nhận rõ ràng là không áp dụng hoặc không điều chỉnh (ví dụ, các vấn đề được liệt kê trong Điều 4 CISG). Trong trường hợp này, luật quốc gia sẽ đương nhiên được áp dụng để lấp vào chỗ khuyết của CISG. Loại thứ hai là lỗ hổng bên trong (internal gap) tức là các vấn đề mà CISG có điều chỉnh nhưng lại không có cách giải quyết rõ ràng. Các tốt nhất để xử lý lỗ hổng bên trong là áp dụng các nguyên tắc chung của CISG càng nhiều càng tốt, và hạn chế tối đa việc sử dụng tới luật nội địa của quốc gia.[6] 

Kết quả việc áp dụng CISG tại Việt Nam từ 01/01/2017 đến 30/11/2020 

Cho đến nay, không có số liệu về tổng số vụ kiện về mua bán hàng hóa quốc tế được xét xử tại Tòa án. Theo thông tin không chính thức tại tòa án nhân dân ba tỉnh/thành phố chính có nhiều hoạt động thương mại là Hà Nội, TP.HCM và Đà Nẵng thì cho đến nay chưa có bất kỳ vụ kiện nào mà tòa án áp dụng CISG. 

Tại trọng tài, CISG đã được sử dụng để giải quyết tranh chấp trong 7 vụ kiện: 6 vụ tại VIAC và 1 vụ tại ICC. Đây chỉ là một con số rất nhỏ so với tổng cộng 86 vụ tranh chấp được giải quyết bởi các cơ quan trọng tài trong thời gian từ 01/01/2017 đến 30/11/2020. 

Sau đây là ba lý do cho việc áp dụng CISG còn rất hạn chế này tại Việt Nam: 

1) Hợp đồng được giao kết/xác lập trước khi CISG có hiệu lực tại Việt Nam 

Phần lớn những vụ kiện trong số tổng cộng 86 vụ đã đề cập ở trên được đưa ra giải quyết tại trọng tài trong năm 2017. Tuy nhiên các hợp đồng bị tranh chấp lại được ký trước ngày 01/01/2017. Vào thời điểm đó, CISG chưa có hiệu lực và không thể được áp dụng khi hợp đồng có quy định luật áp dụng là luật Việt Nam hoặc hợp đồng không có thỏa thuận về luật áp dụng. Do đó, việc CISG không được áp dụng trong các trường hợp này là hoàn toàn phù hợp với thực tiễn trọng tài quốc tế. 

2) Hợp đồng không quy định luật áp dụng 

Theo thông tin thu thập được từ VIAC, đến hết năm 2020, đã có 31 tranh chấp về thương mại quốc tế mà hợp đồng không quy định luật áp dụng. Đối với những vụ tranh chấp đó, Hội đồng trọng tài đã quyết định áp dụng luật Việt Nam. Tuy nhiên, cách giải quyết trên không phù hợp với quy định tại Điều 1.1(b) CISG, thực tiễn quốc tế cũng như các hướng dẫn của UNCITRAL. Lẽ ra, khi quyết định áp dụng luật Việt Nam, Hội đồng trọng tài phải đồng thời căn cứ vào điều 1.1(b) để áp dụng CISG cho việc xét xử vụ tranh chấp. 

3) Hợp đồng quy định luật áp dụng là luật Việt Nam 

Trong tổng số 86 vụ tranh chấp bằng trọng tài tại Việt Nam, có tới 54 vụ mà hợp đồng có quy định luật Việt Nam là luật áp dụng. Trong các vụ việc này thì hầu hết các hội đồng trọng tài đã lựa chọn luật Việt Nam để xét xử và hoàn toan phớt lờ sự tồn tại của CISG trong hệ thống pháp luật Việt Nam. Đây là một biểu hiện của xu hướng “nhớ nhà” (hometrend), tức là hội đồng tài viên đã vô tinh hoặc cố ý hiểu nội dung CISG theo hướng loại trừ áp dụng CISG trong những trường hợp mà lẽ ra CISG phải được áp dụng theo Điều 1.1(b). 

Để tìm hiểu và giải thích lý do của cách hiểu sai lệch này, 14 trọng tài viên Việt Nam đã được phỏng vấn về chủ đề áp dụng CISG. Kết quả như sau: 

– 3 trọng tài viên đã từng xét xử vụ việc liên quan tới CISG. 

– 7 trọng tài viên có quan điểm thủ cựu, cho rằng kể cả khi Việt Nam đã là thành viên của CISG, thì nếu các bên thỏa thuận áp dụng luật Việt Nam thì vẫn sẽ ưu tiên áp dụng luật Việt Nam mà không áp dụng CISG, hoặc coi CISG là một nguồn luật phụ bổ sung. 

– Phần lớn các trọng tài viên đánh đồng các quy định của CISG với luật Việt Nam và cho rằng có thể áp dụng cái nào cũng được, đều cho kết quả như nhau. 

– Nhiều trọng tài viên đều cho rằng nếu các bên đã nộp khiếu kiện hoặc bản tự bảo vệ dựa trên luật Việt Nam, thì ngầm định là CISG bị loại trừ. Điều này trái với thực tiễn quốc tế cũng như ý kiến của Hội đồng cố vấn CISG ghi nhận ở phần 2 nêu trên. 

– Một trọng tài viên lý giải vì sao luật Việt Nam được ưu tiên áp dụng hơn CISG. Theo giải thích của trọng tài viên này, Việt Nam cũng đã đề cập đến Công ước viên nhưng chưa bao giờ áp dụng. Các doanh nghiệp Việt Nam sẽ theo luật Việt Nam vì đây là nguồn luật họ biết và hiểu rõ hơn. 

Như vậy có thể kết luận là bản thân các bên tranh chấp đã có xu hướng không đưa ra đề xuất về việc áp dụng CISG trong quá trình tố tụng mà chỉ dựa vào luật Việt Nam, và hội đồng trọng tài cũng có xu hướng ngầm định các bên ưu tiên lựa chọn luật Việt Nam để giải quyết tranh chấp. Vì sự “đồng thuận ngại đổi mới” này mà các bên thường dẫn tới kết quả cuối cùng là “về nhà” áp dụng luật Việt Nam thay vì CISG. 

Mở rộng xem xét ý kiến của 10 thẩm phán có hoạt động xét xử các vụ kiện thương mại, có tới 8/10 cho rằng luật Việt Nam phải được áp dụng nếu các bên thỏa thuận trong hợp đồng áp dụng luật Việt Nam. Đây cũng là lý do vì sao chưa tìm thấy một bản án nào của tòa án có áp dụng CISG. 


[1] Italy 14 January 1993 District Court Monza (Nuova Fucinati v. Fondmetall International) http://cisgw3.law.pace.edu/cases/930114i3.html and France 26 September 1995 Appellate Court Colmar (Ceramique Culinaire v. Musgrave). http://cisgw3.law.pace.edu/cases/950926f1.html
[2] UNCITRAL Digest of Case Law on the CISG (2016 Edition), page 34, para 11
[3] CISG Advisory Council (2014), Opinion no. 16: Exclusion of the CISG under Article 6, para 5.
[4] Bruno Zeller, ‘Good Faith – The Scarlet Pimpernel of the CISG (May 2000).
[5] Magnus, ‘Remarks on Good faith’ Int. Trade and Bus L Ann III (1997) 46
[6] UNCITRAL Digest (2016), page 43, para 10.  

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai.